Đọc tiếp »

Bất ổn và mong manh

Hoạt động kinh tế thế giới ngày càng kém phát triển và phát triển không đồng đều trong những hai năm trở lại đây. Hàng loạt sự kiên đã và đang xảy ra với nền kinh tế thế giới như sự tàn phá của trận động đất kinh hoàng tại Nhật Bản, những bất ổn về chính trị đang gia tăng tại một số nước xuất khẩu dầu của Trung Đông…Và hàng loạt những cú sốc về kinh tế sẽ dội vào nền kinh tế thế giới trong giai đoạn tới là những minh chứng cho một giai đoạn nguy hiểm mới của kinh tế toàn cầu.

Hơn thế nữa, cuộc khủng hoảng nợ công tại Mỹ vẫn chưa đi đến hồi kết, sự hoảng loạn tài chính tại khu vực đồng Euro, thị trường tài chính toàn cầu đang hứng chịu hậu quả của việc bán ồ ạt các loại tài sản đầy rủi ro và hiệu ứng lan tỏa đang ảnh hưởng trực tiếp tới nền kinh tế thực của tòan cầu.

Bên cạnh đó, sự khủng hoảng về cơ cấu kinh tế mà các nước phát triển đang phải đối mặt trên thực tế vẫn chưa có giải pháp hữu hiệu. Việc cải cách cơ cấu còn quá phức tạp và nặng nề. Các nền kinh tế mới nổi cho dù là được kỳ vọng tốt nhưng cũng đang trở nên bất ổn hơn bao giờ hết. Quỹ tiền tệ quốc tế IMF đưa ra những con số đáng báo động nền kinh tế thế giới. Cụ thể, theo IMF, tăng trưởng toàn cầu sẽ giảm từ mức hơn 5% trong năm 2010 xuống mức khiến tốn là 4% cho suốt năm 2012. Theo đó, GDP thực tại các nền kinh tế đã phát triển được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức èo uột là 1,5%/năm trong năm 2011 và sẽ lên mức 2% năm 2012 nhờ những biện pháp cứng rắn mà các chính phủ đã thực hiện trong quý II/2011.

Tuy nhiên, điều này chỉ có thể trở thành hiện thực khi các nhà hoạch định chính sách châu Âu hạn chế được cuộc khủng hoảng trong phạm vi khu vực đồng Euro, trong khi đó,
các nhà hoạch định chính sach Mỹ cần nổ lực phấn đấu cho sự cân bằng thận trọng giữa hỗ trợ nền kinh tế và củng cố ngân sách trung hạn cùng những biến động tại các thị trường tài chính toàn cầu.

Hơn nữa, hầu hết các chuyên gia tài chính đều kỳ vọng là các nền kinh tế đã phát triển sẽ tạm dừng việc từ bỏ nới lỏng tiền tệ. Có như vậy thì cùng với việc thắt chặt chính sách đang được triển khai tại các nước mới nổi sẽ làm giảm tỷ lệ tăng trưởng của các nước đang phát triển xuống một mức khoảng 6% trong năm 2012.

Như vậy,triển vọng của các nền kinh tế thế giới hiện nay vẫn có, tuy nhiên cơ hội này quả thật là rất mong manh và thăng trầm.

IMF tham mưu cho các nhà làm chính sách

Việc 2 thị trường lớn là Mỹ và EU rơi vào khủng hoảng có thể gây ra các hậu quả nghiêm trọng cho tăng trưởng toàn cầu khi mà những căng thẳng tái diễn có thể làm suy
yếu các thị trường tài chính và những thể chế tại các nước đã phát triển hiện vẫn còn dễ bị tổn thương. Mặt khác, giá hàng sơ chế, thương mại toàn cầu và các luồng vốn chắc chắn sẽ giảm đột ngột, kéo tăng trưởng tại các nền kinh tế đang phát triển và mới nổi giảm xuống. Mặc dù được đánh giá là ít nghiêm trọng hơn nhưng các nền kinh tế mới nổi cũng cần cẩn trọng với các dấu hiệu tăng trưởng quá nóng, đặc biệt là từ phía các nhà chức trách tiền tệ và giám sát hoạt động an toàn.

Các chuyên gia cũng lý giải là vì hoạt động tái cân bằng nhu cầu toàn cầu đang diễn ra khá chậm, trong khi đó, giá hàng sơ chế cao cùng với triển vọng tăng trưởng khiêm tốn của các nền kinh tế đang phát triển, lãi suất dài hạn tại các quốc gia xem ra vẫn ở mức thấp…Điều này có thể khích lệ các rủi ro sang các nền kinh tế khác.

Nhằm hạn chế những rủi ro của nền kinh tế thế giới, các chuyên gia IMF đã tham mưu cho các nhà làm chính sách. Cụ thể, cuộc khủng hoảng tại khu vực đông Euro đã vượt qua
ngoài tầm kiểm soát của các nhà hoạch định chính sách, chính vì thế, điều đầu tiền cần thực hiện là lãnh đạo các quốc gia trong khu vực phải ủng hộ việc thực thi các cam kết nhằm bảo vệ niềm tin vào các chính sách quốc gia và đồng Euro. Hơn thế nữa, với các áp lực lạm phát giảm đi và sự căng thẳng nợ quốc gia chủ quyền và tài chính gia tăng thì Ngân hàng Trung ương châu Âu ECB nên hạ thấp lãi suất chính sách nếu các rủi ro xấu đối với tăng trưởng và lạm phát vẫn dai dẳng.

Như vậy, tại khu vực này, Chính phủ cần yêu cầu các thể chế tài chính yếu kém phải tăng thêm vốn mà tốt nhất là thông qua các giải pháp tư nhân, còn không thì phải chấp
nhận việc bơm thêm vốn từ khu vực công hoặc được cơ sở ổn định tài chính châu Âu EFSF hỗ trợ, nghiêm trọng hơn thì có thể bị tái cấu trúc hay đóng cửa. Tại các nền kinh tế của khu vực thì một nhiệm vụ chính sẽ là tìm ra sự cân bằng thích hợp giữa một mặt là củng cố tài khóa và cải cách cơ cấu. Mặt khác, phải có sự hỗ trợ cán cân đối ngoại, có như vậy mới đảm bảo sự bền vững trong việc điều chỉnh các chính sách trên.

Tiếp theo đó, hoạt động kinh tế của Mỹ đã giảm đi và một rủi ro nghiêm trọng là sự cắt giảm tài khóa mọt cách vội vàng mà thiếu các cải cách dài hạn cần thiết để giảm nợ xuống mức bền vững hơn thì sẽ làm triển vọng kinh tế xấu đi. Do đó, IMF khuyến cáo NHTW Mỹ nên sẵn sàng sử dụng sự hỗ trợ không theo thông lệ nhiều hơn và tốc độ củng cố tài khóa có thể mạnh hơn về sau này. Cụ thể, các ưu tiên hàng đầu tại Mỹ gồm việc lập một kế hoạch củng cố tài khóa trung hạn để đưa nợ công trở lại bền vững và thực hiện các chính sách để duy trì sự phục hồi gồm cả nới lỏng sự điều chỉnh tại các thị trường lao động và nhà ở.

Thực tế, mỗi quốc gia lại có một thách thức khác nhau và vì thế các biện pháp nhằm hạn chế, phục hồi cũng không thể giống nhau. Như các nền kinh tế thị trường đang nổi,
việc luồng vốn đầu tư liên tiếp đổ vào đây ngoài những mặt lợi thì các nền kinh tế này cũng cần cải thiện thêm năng lực hấp thu với các thị trường dịch vụ và sản phẩm của các nhà đầu tư nước ngoài.

Hơn hết, theo các chuyên gia tài chính, việc chấp thuận các chương trình củng cố tài khóa trung hạn hài hóa với tăng trưởng tại các nền kinh tế đã phát triển, các chính sách tái cân bằng nhu cầu tại các nền kinh tế thặng dư tại thị trường mới nổi và các cải cách cơ cấu để tăng mạnh tăng trưởng tiềm năng ở mọi nơi…có thể đem lại một sự kích thích lớn cho GDP toàn cầu. Tuy nhiên, để đạt được điều nay sẽ đòi hỏi các nhà hoạch định chính sách giải quyết được các thách thức kinh tế chính trị khó khăn tại quốc gia mình và làm hồi sinh tinh thần hợp tác mạnh mẽ.

Như vậy, trừ khi các chính sách được tăng cường củng cố, đặc biệt là tại các nền kinh tế đã phát triển, nếu không thì sẽ không có gì ngoài sự phục hồi “èo uột” của nền kinh tế thế giới.

Posted: 28.09.2011 in Uncategorized

Ban co the tim thay tat ca nhung thong tin can thiet lien quan den linh vuc tai chinh tai day

Kinh doanh ngoại hối là gì?

Forex hoặc FX là viết tắt của giao dịch ngoại hối và kinh doanh ngoại hối là giao dịch các loại tiền tệ khác nhau. Nói cách khác là nó trao đổi các loại tiền tệ của một quốc gia cho một loại tiền tệ quốc gia và là phổ biến nhất là được thực hiện thông qua một nhà môi giới.

Fraction lot: Phân đoạn giá trị một hợp đồng giao dịch thông thường có nghĩa là sự linh hoạt cho nhà đầu tư giao dịch bất kỳ số tiền mong muốn theo sự lựa chọn của mình. Điều này nghĩa là có thể chỉ giao dịch với vài xu.

Rollover (Hoán đổi hai loại tiền): Mỗi đồng tiền của nhà đầu tư hoặc các khách hàng giao dịch có một mức lãi suất tương ứng với nó, tái đầu tư là lãi suất trả/kiếm được để nắm giữ vị trí qua đêm. Điều này tạo ra thêm lợi nhuận/thua lỗ cho nhà đầu tư.

Có hai loại hoán đổi 2 loại tiền cơ bản

Positive Roll – tái đầu tư tích cực (tái đầu tư tín dụng – Rollover Credit): Nếu tỷ lệ lãi suất của các tiền tệ của khách hàng là cao hơn so với lãi suất anh/cô ấy bán.

Negative Roll – tái đầu tư tiêu cực (tái đâu tư ghi nợ – Rollover Debit): Nếu tỷ lệ lãi suất của khách hàng thấp hơn so với tỉ lệ lãi suất anh/cô ấy bán.

Giờ mở/đóng cửa thị trường: Mặc dù thị trường ngoại hối là mở cửa 24 giờ một ngày, sẽ là khôn ngoan để giao dịch khi thị trường hoạt động tích cực nhằm tăng cơ hội tạo ra lợi nhuận tốt. Dưới đây là những giờ kinh doanh ngoại hối cho một số các thành phố lớn trên toàn cầu (tất cả thời gian được ở Mỹ EST),

New York mở cửa lúc 8:00-5:00 pm EST

London mở cửa lúc 3:00-12:00 trưa EST

Sydney mở cửa lúc 5:00-2:00 EST

Tokyo mở cửa lúc 7:00-4:00 EST

Margin (số dư kí quỹ):Các số tiền tối thiểu của vốn chủ sở hữu phải được duy trì trong tài khoản của một nhà đầu tư để giữ một vị trí mở được gọi là số dư kí quỹ margin.

Tính toán mức số dư có thể sử dụng, sau khi đặt một giao dịch, có thể được thực hiện bằng cách sử dụng toán học đơn giản. Nếu tài khoản có số dư là $1000 có thể sử dụng số dư có sẵn và nhà đầu tư có yêu cầu số dư 1%, mong muốn đặt một giao dịch 20k, thì số tiền được gửi vào số dư kí quỹ đã được sử dụng sau khi đặt giao dịch có thể được tính bằng cách nhân kích thước giao dịch bới cách yêu cầu số dư ($ 20,000 x 1% = $ 200). Điều này làm tài khoản có $800 số dư có thể sử dụng ($ 1000 – $ 200 = $ 800).

Cặp tiền tốt nhất để kinh doanh giao dịch và cặp tiền nên tránh cho người mới bắt đầu: Thị trường ngoại hối cung cấp các cặp tiền tệ khác nhau để các nhà đầu tư kinh doanh, nhưng là một người mới bắt đầu nên theo sát các cặp tiền tệ chính như EUR/USD, GBP/USD, USD/JPY bởi vì đây là những giao dịch mua bán rộng rãi và có khối lượng giao dịch cao nhất. Điều này là tốt nhất để tránh bất kỳ cặp tiền tệ mới hoặc kỳ lạ.

Sự chênh lệch giá mua bán là giá giữa một cặp tiền tệ được mua và giá mà tại đó nó có thể được bán ra. Nó có thể được giải thích tốt hơn với một ví dụ đơn giản, ví dụ một khách hàng mua một loại tiền tệ cho 100 có một mức giá cao hơn giá trị thị trường thực tế, nhưng sau đó nhận ra rằng ông đã phạm sai lầm và bán nó ở 95 mà là thấp hơn so với giá ông đã mua nó ở, vì thế có một sự thua lỗ 5 (100 -95 = 5). Sự khác biệt giữa là hai mức giá này là 5 được gọi là sự chênh lệch giá mua bán được đo trong một đơn vị gọi là pip.

Các lệnh giới hạn bán và mua và lệnh dừng bán và mua thì đối ngược với nhau. Trong lệnh dừng bán, nhà đầu tư đặt lệnh thấp hơn giá thị trường nhưng trong lệnh hạn chế bán, họ đặt nó trên giá thị trường trong khi dừng mua nhà kinh doanh đặt lệnh trên giá thị trường nhưng để hạn chế mua họ đặt nó dưới đây thị trường giá.

Ví dụ, nói rằng các nhà đầu tư / khách hàng đang tập trung vào cặp tiền tệ EUR/USD một lần nữa, và họ đã làm tất cả những phép tính toán, phân tích kỹ thuật, và đi đến kết luận rằng mức kháng cự cho EUR/USD là tại 1,2700. Vì vậy, những gì họ có thể làm là thiết lập một LỆNH GIỚI HẠN BÁN tại 1,2700 như vậy khi giá thị trường đạt đến đó, nó có vị trí là bán ngắn, và nếu thị trường đi xuống vị trí là có lợi nhuận hoặc nếu nó đi lên sau đó vị trí là thua lỗ.

Cả hai hợp đồng kì hạn tương lai và hợp đòng quyền chọn được giao dịch trên một mức trao đổi.

Chênh lệch giá mua bán có thể tăng tùy thuộc vào biến động thị trường là hay tùy thuộc vào tính thanh khoản. Tính thanh khoản tiếp tục gia tăng thông báo chênh lệch giá khá ồn định và làm giảm rủi ro chênh lệch giá tăng rộng.

Scalping là một loại hệ thống giao dịch ngoại hối có những nỗ lực để nhanh chóng tham gia/thoát ra khỏi thị trường, nó giúp trong việc nắm bắt các biến đông nhỏ và có lôi nhuận của giá. Một chiến lược scalping có thể từ vài đến hàng ngàn giao dịch mỗi ngày.

Trong tình hình bình thường để thương mại được thực thi ở mức giá tốt nhất. Trong trường hợp có một khoảng cách thị trường, chúng tôi luôn đặt lệnh khi thị trường mở và cố gắng thực hiện nó như là sát với giá cụ thể càng tốt.

Lệnh cắt lỗ:

Thi hành lệnh không được bảo đảm trong điều kiện thị trường sôi động nhưng được bảo đảm trong điều kiện thị trường bình thường. Trong giờ thị trường sôi động lệnh được thực hiện ở các báo giá đầu tiên tốt nhất có thể.

Sự khác nhau giữa giao dịch ngoại hối và giao dịch cổ phiếu cổ truyền: Giao dịch ngoại hối và chứng khoán thông thường là hai loại khác nhau của giao dịch. Trong kinh doanh ngoại hối mục tiêu của nhà đầu tư là để dự đoán đỉnh ngắn hạn nơi tiền tệ thay đổi giá trị. Phần lớn các giao dịch ngoại hối được thực hiện theo phong cách giao dịch theo ngày nơi mà một nhà đầu tư mua và bán các cặp tiền tệ trong cùng một ngày. Trường hợp như chứng khoán, kinh doanh đại diện cho các quỹ tương hỗ theo phong cách kinh doanh dài hạn nơi các giao dịch có thể kéo dài trong nhiều ngày, tháng hay năm.

Kinh doanh ngoại hối là một thị trường có rủi ro cao. Nhưng với kiến thức thích hợp, những phần thưởng trong các giao dịch ngoại hối có thể rất hấp dẫn.

Những người chơi chính trong giao dịch ngoại hối:

Nhiều ngân hàng hàng đầu trên thế giới là người chơi lớn trong thị trường ngoại hối. Một số trong số đó là ngân hàng Deutsche Bank, UBS, Citi Group, HSBC, Barclays, Merril Lynch, JP Morgan Chase, Coldman Sachs, ABN Amro, và Morgan Stanley.

Chủ thể tham gia vào thị trường ngoại hối?

Các ngân hàng (trung ương, thương mại và đầu tư) và các tổ chức tài chính khác luôn là một trong những người chơi chính trong thị trường ngoại hối. Các người chơi thị trường khác là các công ty môi giới quốc tế và các nhà quản lý quỹ, các nhà đầu tư tư nhân, các tập đoàn đa quốc gia, và các nhà đầu tư đăng ký.

Thị trường ngoại hối công bằng và chính xác

Theo các chuyên gia, thị trường ngoại hối là một trong những thị trường giao dịch chính xác nhất trên thế giới và điều này dựa trên thực tế là nó không được kiểm soát bởi bất kỳ người chơi lớn hoặc cơ quan chính phủ, nhưng thay vào đó là bao gồm nhiều người tham gia trên toàn cầu.

Định giá tiền tệ

Giá tiền tệ được xác định dựa trên các yếu tố khác nhau bao gồm nhưng không hạn chế về điều kiện kinh tế chính trị / của một đất nước, tình hình chính trị, tỷ lệ lạm phát, lãi suất và nhiều hơn nữa. Cũng có trường hợp can thiệp của ngân hàng trung ương nơi chính phủ tham gia vào thị trường ngoại hối để tác động đến giá trị (tăng hoặc giảm) của các đồng tiền của mình bằng cách mua hoặc bán khối lượng lớn.

Kinh doanh ngoại hối ngày càng  phổ biến vì hai lý do chính, nó có thể dễ dàng thực hiện từ bất kỳ nơi nào trên thế giới (văn phòng, nhà ngay cả khi đi nghỉ) thông qua internet và nó có thể được thực hiện tại bất kỳ thời gian trong ngày vì các thị trường ngoại hối mở cửa 24/7. Nó cũng là hoàn toàn không có rắc rối liên quan đến việc không vận chuyển, thanh toán, đi lại hoặc thậm chí sự cần thiết của việc giữ hàng tồn kho. Lý do tốt nhất đó là thị trường ngoại hối thích cung cấp một cơ hội để kiếm thêm thu nhập.

Pip là đơn vị tiêu chuẩn được sử dụng để đo lường sự chênh lệch giá mua bán (giá chéo thay đổi). Pip là viết tắt của “tỷ lệ phần trăm tại điểm” (percentage in point). Kể từ khi hầu hết các cặp tiền được báo giá đến bốn chữ số thập phân một pip sẽ bằng với 0,0001 vì vậy nếu một cặp tiền tệ là để di chuyển 2,1234 – 2,12345 nó sẽ tạo thành một pip. Ví dụ, nếu EURUSD là báo giá với bốn số thập phân, cho một vị trí nhất định có thể gia tăng số lượng vị trí của các giá trị của một pip, vì vậy, trên một hợp đồng 100.000 EURUSD, một pip sẽ bằng USD 10.

Quản lý rủi ro

Lệnh giới hạn và lệnh dừng lỗ là hai trong số các công cụ quản lý rủi ro tốt nhất có sẵn trong các giao dịch ngoại hối.

Lệnh dừng lỗ là một mức giá cố định được xác định trước bởi các nhà đầu tư có thể tự động thanh lý một vị trí để hạn chế khả năng thua lỗ trong trường hợp thị trường thay đổi chiều hướng mạnh mẽ chống lại vị thế của nhà đầu tư

Lệnh giới hạn, mặt khác đặt các mức hạn chế mức giá tối đa phải trả hoặc giá tối thiểu để được nhận được.

Tần suất giao dịch của một nhà đầu tư:

Nó phụ thuộc vào các điều kiện thị trường mà quyết định các hoạt động kinh doanh của nhà đầu tư vào bất kỳ ngày nào. Vào một ngày trên mức trung bình một nhà đầu tư có thể giao dịch lên đến mười lần một ngày hoặc thậm chí nhiều hơn vì không có hoa hồng đánh vào các giao dịch không giống như thị trường chứng khoán truyền thống Đọc tiếp »

Những thuật ngữ thường dùng trong kinh doanh Forex. Được coi là ngôn ngữ chuẩn mực trong kinh doanh Forex trên toàn thế giới.

Thuật ngữ Nghĩa

AUD Đô la Úc
CAD Đô la Canada
EUR Euro
JPY Yên Nhật
GBP Bảng Anh
CHF Franc Thụy Sĩ
Accrual Lợi nhuận sau khi giao dịch [1] kết thúc
Arbitrage Nghiệp vụ kinh doanh tiền tệ dựa vào sự biến động tỉ giá giữa 1 cặp tiền tệ
At best Chỉ dẫn cho mức giá tốt nhất
At risk Đang có rủi ro và cho thấy nguy cơ thua lỗ
Authorized Dealer Tổ chức tài chính / ngân hàng đứng ra kinh doanh ngoại hối
Average Chỉ số trung bình
Bear Người kỳ vọng thị trường xuống
Bear Market Thị trường xuống
Bull Người kỳ vọng thị trường lên
Bull Market Thị trường lên
Bid / Ask Giá mua / Giá bán
BOJ (Bank of Japan) Ngân hàng quốc gia Nhật
Black Friday Ngày thứ sáu đen tối -> thị trường tài chính rớt giá thảm hại ( những đợt khủng hoảng tiền tệ)
Bretton Woods Accord of 1944 Thỏa ước về trao đổi tiền tệ năm 1944
Broker Người môi giới
Bulge Giá tăng nhanh nhưng chỉ nhất thời
Bundesbank Ngân hàng trung ương Đức
Cable Cặp GBP/USD
Call Rate Tỉ giá lãi xuất qua đêm
Candlestick Chart Biểu đồ thể hiện tỉ giá trong ngày
Cash Delivery Giao dịch [1] trong ngày
Cash Market Thị trường tiền mặt
Cash Reserve Dự trữ tiền mặt
Chartist Chuyên gia phân tích chỉ số và biểu đồ
Commission Khoản phí trả cho môi giới sau mỗi giao dịch [1]
Commodity Price Index (CPI) Chỉ số giá hàng hóa
Conversion currency Tiền có thể tự do chuyển đổi mà không có sự can thiệp đặc biệt của ngân hàng trung ương
Correspondent Bank Ngân hàng được ủy thác
Cross Rate Tỉ giá chéo
Currency Pair 1 cặp tiền tệ tạo nên tỉ lệ hoán đổi ngoại tệ. VD : EUR/USD
Base Currency Loại tiền đứng đầu trong cặp tiền tệ. VD: EUR trong cặp EUR/USD
Counter Currency Loại tiền đứng sau trong cặp tiền tệ. VD: USD trong cặp EUR/USD
Cross Currency Pairs Cặp tiền tệ không bao gồm đồng USD. Vd: GDB/CHF
Currency Risk Rủi ro
Currency Option Hợp đồng với tỉ giá cụ thể
Currency Swaption Sự lựa chọn tham gia TT ngoại tệ
Currency Warrant Giao dịch Long time trên 1 năm
Daily Cutoff Thời điểm giao dịch cuối ngày
Deficit Thâm hụt
DEF Day Trading Giao dịch trong ngày
Depreciation Sự giảm giá
Dollar Rate Tỉ giá đồng USD
Earning The Points Điểm thu được lợi nhuận
Economic Indicator Những chỉ số kinh tế tác động đến tỉ giá hối đoái : tỉ lệ thất nghiệp, GDP, lạm phát…
EMS Hệ thống tiền tệ Châu Âu
End Of Day Order – EOD Lênh đặt mua / bán với giá cố định có hiệu lực cho đến cuối ngày ( 5pm ET )
European Central Bank (ECB) Ngân hàng dự trữ Châu Âu
European Monetary System (EMS) Hệ thống tiền tệ Châu Âu
European Monetary Unit Đồng Euro
European Joint Float Sự thả nổi tiền tệ của Châu Âu ( Smithsonian 1978)
Exchange Rate Risk Nguy cơ thua lỗ
Federal Reserve (Fed) Cục dự trữ liên bang Mỹ
Fed Fund Rate Lãi suất của ngân hàng dự trữ liên bang Mỹ
Fisher Effect Hiệu ứng Fisher – quan hệ giữa lãi suất và tỉ giá trao đổi
Fixed Exchange Rate Tỉ giá cố định ( thiết lập năm 1944 và tồn tại đến 1970 khi tỉ giá thả nổi được chấp nhận
Flat / Square Không giao dịch
Floating Rate Interest Lãi suất thả nổi
Foreign Exchange (or Forex or FX) Thị trường hoán đổi ngoại tệ ( Thị trường ngoại hối )
Forward Giao dịch trong tương lai
Fundamental Analysis Phân tích biến động thị trường theo kinh tế và theo tin
Futures Market Thị trường hợp đồng futures
Technical Analysis Phân tích biến động thị trường theo kỹ thuật
G7 7 nước công nghiệp dẫn đầu thế giới ( Theo thứ tự) : Mỹ, Đức, Nhật, Pháp, Anh, Canada, Ý
GMT Giờ quốc tế được tính theo giờ London làm mốc
Gross Domestic Product (GDP) Tổng sản phẩm nội địa
Gross National Product (GNP) Tổng sản phẩm quốc gia
Hedging Lệnh bảo toàn rủi ro – chiến lược bù đắp rủi ro đầu tư
High/Low Giá cao nhất và thấp nhất trong ngày ( tính đến thời điểm hiện tại )
Hit the bit Giá được chấp nhận để mua bán theo thị trường
Holding the market Duy trì thị trường ( nghiệp vụ của các ngân hàng)
House Call Lệnh gọi vốn của công ty môi giới
International Monetary Fund (IMF) Quĩ tiền tệ quốc tế ( ra đời năm 1946)
Inflation Lạm phát – Khi giá cả tăng vọt
Initial Margin Số tiền ký quỹ ban đầu cần phải có trong tài khoản [1]
Interbank Rates Lãi suất của ngân hàng Trung ương thế giới
Intervention Sự can thiệp của ngân hàng trung ương
Liability Trách nhiệm khi giao dịch trong thị trường ngoại hối
Limit Order Lệnh giới hạn
Liquidation Sự thanh khoản
Long Position = Buy Vị trí mua
Short Position = Sell Vị trí bán
Lot Giá trị 1 hợp đồng giao dịch.
Margin Tiền ký quĩ
Margin Call Cảnh báo nguy cơ giảm tiền ký quỹ
Maintenance Margin Số vốn tối thiểu trong tài khoản [1] để thực hiện giao dịch
Maturity Ngày thanh khoản
One cancels the other (OCO) Order Lệnh tự hủy khi có 1 lệnh đã được giao dịch
Offset Vị trí đóng, thanh khoản của 1 giao dịch trong tương lai
Overnight Trading Giao dịch qua đêm
Pip (or Points) Điểm – mức nhỏ nhất của 1 đơn vị tiền tệ
Pegged Định giá ( giá di chuyển trong giới hạn cho phép )
Political Risk Sự can thiệp của chính quyền khi có sự gian dối
Profit /Loss or “P/L” or Gain/Loss Khoản lời / lỗ sau khi kết thúc giao dịch
Rally Giá tăng trở lại sau 1 thời gian giảm
Range Phạm vi của giá trần và giá sàn trong 1 giao dịch
Resistance Mức giá trần mong đợi
Revaluation Sự nâng giá
Risk Capital Mức vốn chịu đựng thua lỗ
Rollover Hoán đổi 2 loại đồng tiền bằng tỷ giá.
Secondary Exchange Market (SEM) Thị trường hối đoái thứ cấp ( có hệ thống tỉ giá hối đoái kép)
Settlement Hoán đổi thực của 2 đồng tiền
Soft Market Thị trường yếu khi giá đột ngột giảm
Spot Thị trường trao ngay
Spread Sự khác nhau giữa giá bán và giá mua
Stop Loss Order Lệnh giảm lỗ
Support Levels Mức giá sàn mong đợi
Technical Trader ( Chartist) Người sử dụng biểu đồ, số liệu thị trường biến động trong quá khứ để dự đoán tương lai
Trader = Dealer = Merchant Cá nhân mua bán các loại chứng khoán [2] – tiền tệ
TUV Technical Analysis Phân tích kỹ thuật dựa vào thị trường
Treasury General Account (TGA) Tổng tài khoản [1] ngân khố của ngân hàng trung ương Quốc gia
Two-Way Price Giá 2 chiều
US Prime Rate Giá thông báo của ngân hàng Mỹ
Undervaluation Giá dưới giá trị thực
Value Date Ngày thanh toán
Variation Margin Số tiền cần thiết nạp vào tài khoản cho đủ Margin
Volatility (Vol) Mức biến động giá

  Theo đó, hạng tín nhiệm dài hạn của ngân hàng Bank of America đã bị hạ từ mức A2 xuống Baa1, còn hạng tín nhiệm ngắn hạn thì từ mức Prime 1 xuống Prime 2.

Moody’s cũng cắt giảm hạng tín nhiệm dài hạn của ngân hàng Wells Fargo từ mức Aa3 xuống mức A1 và mức tín nhiệm ngắn hạn của ngân hàng Citigroup từ mức Prime 1 xuống Prime 2.

Moody’s cho rằng, chính phủ Mỹ vẫn sẽ phải hỗ trợ cho các tổ chức tài chính lớn này nếu họ gặp khó khăn. Tuy nhiên, gói cứu trợ khổng lồ như đã từng áp dụng trong cuộc khủng hoảng tài chính có thể không xảy ra một lần nữa.

Trong cuộc khủng hoảng tài chính 2008, Washington đã chi hàng trăm tỷ USD để giải cứu các tổ chức tài chính này nhằm tránh sự đổ vỡ dây chuyền trong hệ thống ngân hàng Mỹ.

Ngoài việc hạ bậc tín nhiệm nợ của 3 ngân hàng này, Moody’s cũng đưa ra những triển vọng bi quan cho cả 3 ngân hàng này, nhưng cho rằng, việc hạ bậc này “không phản ánh sự yếu kém về chất lượng tín dụng nội tại” của các ngân hàng này.

Trước đó, hồi tháng 6, Moody’s đã đưa 3 ngân hàng này vào diện cảnh bảo hạ bậc tín nhiệm. Ngay sau khi thông tin hạ bậc tín nhiệm này được công bố, cổ phiếu của Bank of America đã giảm 3,7%, Citigroup giảm nhẹ, trong khi đó cổ phiếu của Wells Fargo giảm 0,8% trong phiên giao dịch buổi chiều.

Theo dantri.com

 Nhật Bản ghi nhận số liệu thâm hụt thương mại khổng lồ trong tháng 8-2011, do các công ty năng lượng phải nhập khẩu nhiên liệu để đáp ứng nhu cầu điện lớn trong nuớc, trong khi các nhà mày điện hạt nhân đóng cửa sau thảm họa Con số thâm hụt được đưa ra là 775,3 tỉ yen (tương đương 10 tỉ đô la Mỹ). Đây là thống kê báo động nhất kể từ khi Bộ Tài chính bắt đầu thu thập dữ liệu từ năm 1979. Con số này lớn hơn nhiều so với mức dự báo ít hơn 300 tỉ yen của các nhà kinh tế. Sản lượng xuất khẩu tháng 8-2011 tăng 2,8%, tăng lần đầu tiên kể từ thảm họa kép vào tháng 3-2011, đạt 5.360 ngàn tỉ yen nhờ xuất nhiều chuyến hàng ô tô, máy móc và tàu bè. Mức tăng này thấp hơn so với mong đợi của nhiều nhà kinh tế do luợng xuất khẩu hàng điện tử tụt giảm 16,4% so cùng kỳ năm ngoái. Nhà kinh tế Osanai thụôc viện nghiên cứu Daiwa nhận định: “Nhu cầu máy tính cá nhân và màn hình tinh thể lỏng giảm tác động đến ngành công nghiệp sản xuất chất bán dẫn ở Nhật Bản. Xuất khẩu đang dần phục hồi sau thảm họa nhưng sẽ bị chựng lại do tác động của khủng hoảng kinh tế từ các nước khác”. Trong khi đó, nhập khẩu tăng nhanh đến 19,2% so cùng kỳ năm ngoái, đạt 6.140 tỉ yen, do giá dầu và nhu cầu mua khí đốt hóa lỏng tự nhiên tăng. Các công ty sản xuất năng lượng phải nhập khẩu nhiên liệu rắn cho máy nhiệt điện vì đa số lò phản ứng hạt nhận đều bị đóng cửa sau thảm họa hoặc tạm ngưng họat động để kiểm tra định kỳ do làn sóng phản đối từ cư dân địa phương. Ông Osanai nói: “Giá nhiên liệu tăng lên sẽ tiếp tục tác động tiêu cực đến giao thương của Nhật Bản”. Bên cạnh đó, đồng yen mạnh đã tác động xấu đến các công ty xuất khẩu của Nhật Bản khi làm cho giá thành sản phẩm thêm đắt đỏ và giảm bớt lợi nhuận của công ty. Hiện, 1 đô la Mỹ ăn 76,3 yen. Chuyên gia kinh tế cao cấp của công ty tư vấn và nghiên cứu Mizuho, ông Norio Miyagawa, nói: “Tỷ giá hối đoái đang làm giảm khả năng cạnh tranh của Nhật Bản ở nước ngoài. Tuy nhiên trước mắt, việc phục hồi kinh tế toàn cầu là điều quan trọng hơn. Bất kỳ sự thay đổi nào của thị trường tài chính toàn cầu trong bối cảnh lo ngại về khủng hoảng nợ ở châu Âu và suy yếu kinh tế ở Mỹ đều sẽ làm trì trệ xuất khẩu của Nhật Bản trong những tháng tới”. Bản tin ngày: 22/9/2011 ( Được xem : 41 lần ) Theo: Bankokpost, TBKTSG